Alanine
Alanine là một loại axit amin giúp tăng cường chức năng gan và thúc đẩy quá trình phân hủy alcohol. Nó cũng tạo ra glucose, là nguồn năng lượng trong quá trình tập luyện nên là thành phần cần thiết trong quá trình tập luyện lâu dài. Alanine có vị ngọt và còn được dùng làm phụ gia thực phẩm tự nhiên.
Alanine là gì?
- Thông tin cơ bản
Alanine là một loại axit amin có tác dụng bảo vệ chức năng gan và phân hủy rượu. Axit amin là khối xây dựng nên protein tạo nên cơ bắp và các cơ quan nội tạng. Những axit amin có thể tổng hợp được trong cơ thể được gọi là axit amin không thiết yếu [*1], còn những axit amin không thể tổng hợp được trong cơ thể được gọi là axit amin thiết yếu [*2] được xếp vào loại axit amin không thiết yếu vì nó có thể được tổng hợp trong cơ thể. Có mặt trong hầu hết các protein trong cơ thể, đặc biệt là trong tế bào chất [*3].
- Lịch sử của Alanine
Được phát hiện thông qua quá trình tổng hợp hóa học vào năm 1850 và thu được từ quá trình thủy phân sợi tơ [*4] vào năm 1875. Một lượng nhỏ glycine , alanine, axit glutamic và β-alanine [*5] đã được phát hiện trong một thiên thạch rơi ở Murchison, Úc vào năm 1969, và người ta tin rằng các axit amin như alanine tồn tại trong vũ trụ .
Sử dụng làm thành phần dược phẩm trong thuốc điều trị tăng sản tuyến tiền liệt và các chế phẩm axit amin toàn diện. Nó được sử dụng trong lĩnh vực dinh dưỡng lâm sàng để cải thiện rối loạn tiết niệu và đi tiểu thường xuyên, cũng như truyền axit amin và dinh dưỡng qua đường miệng/đường ruột.
- Thực phẩm chứa nhiều alanine
Đặc tính phân hủy rượu được tìm thấy với số lượng lớn trong gan bò và thịt lợn, cũng như các động vật có vỏ như trai và trai. Sở dĩ súp miso với nghêu được cho là tốt cho người say rượu là do tác dụng của alanine trong việc thúc đẩy quá trình phân hủy rượu.
<Kiến thức bên lề> Alanine ảnh hưởng đến vị giác và khứu giác
Alanine có vị ngọt nên còn được dùng làm phụ gia thực phẩm. Một số axit amin có vị ngọt, chẳng hạn như alanine, một số khác có vị đắng, chẳng hạn như valine và leucine , và một số khác có vị umami, chẳng hạn như axit glutamic và có đặc tính chống lại sự đổi màu.
Các axit amin như alanine cũng được sử dụng làm hương vị phản ứng trong thực phẩm chế biến. Hương vị phản ứng là mùi thơm được tạo ra khi đun nóng axit amin và glucose và được đặc trưng bởi các mùi thơm khác nhau tùy thuộc vào loại axit amin. Alanine có mùi như caramel, proline và lysine có mùi như bánh mì, còn isoleucine có mùi như phô mai nướng.
[*1: Axit amin không thiết yếu là axit amin có thể được tổng hợp trong cơ thể. Có 11 loại: glycine, alanine, serine, axit aspartic, axit glutamic, asparagine, glutamine, arginine, cysteine, tyrosine và proline. ]
[*2: Axit amin thiết yếu là các axit amin cần thiết cho sự tăng trưởng và hỗ trợ sự sống của động vật, nhưng cơ thể không thể tổng hợp được và phải ăn vào từ thức ăn. Có chín loại: valine, leucine, isoleucine, threonine, methionine, lysine, histidine, phenylalanine và tryptophan. ]
[*3: Tế bào chất là thành phần cấu tạo nên tế bào và là phần của màng tế bào không chứa nhân. ]
[*4: Thủy phân là sản phẩm phân hủy thu được từ phản ứng của nước với chất phản ứng. ]
[*5: β-alanine là một loại axit amin tự nhiên. ]
Tác dụng của Alanine

- Tác dụng cải thiện chức năng gan
Alanine được cho là có tác dụng thúc đẩy quá trình chuyển hóa rượu và cải thiện tình trạng nôn nao.
Người ta phát hiện ra rằng những con chuột được cho uống một lượng lớn rượu đến trạng thái gần như bị viêm gan do rượu sẽ thèm nước có chứa alanine và glutamine . Điều này cho thấy alanine và glutamine có thể cần thiết để duy trì chức năng gan.
Tiếp tục nghiên cứu, họ cho chuột ăn một chế độ ăn trộn với rượu và sau đó so sánh mức độ vận động tự nguyện ở những con chuột được cho ăn alanine và glutamine và những con không được cho uống alanine và glutamine. Kết quả là hoạt động vận động tăng lên tương đối nhanh ở những người được điều trị bằng alanine và glutamine. Một nghiên cứu khác cho thấy những con chuột được cho dùng alanine và glutamine có nồng độ acetaldehyde trong máu thấp hơn, một chất gây nôn nao. Dựa trên những kết quả này, người ta tin rằng việc sử dụng đồng thời alanine và glutamine có tác dụng thúc đẩy quá trình chuyển hóa rượu.
Ngoài ra, alanine và glutamine được cho là có hiệu quả không chỉ trong việc thúc đẩy chuyển hóa rượu mà còn cải thiện tổn thương gan [*6]. Người ta cũng phát hiện ra rằng việc sử dụng alanine và glutamine cho những con chuột đã bị loại bỏ phần lớn gan sẽ thúc đẩy quá trình tái tạo gan. Tăng cường chức năng gan cũng làm giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ [*7] và xơ gan [*8]. [1] [2]

- Tác dụng hỗ trợ tập luyện bền bỉ
Là thành phần cần thiết để tập luyện lâu dài. Trong quá trình tập luyện, glucose được phân hủy để tạo ra năng lượng, lúc này cơ thể cũng sản sinh ra alanine. Alanine, được tạo ra trong quá trình sản xuất năng lượng, sau đó di chuyển đến gan và được sử dụng lại để sản xuất glucose, đóng vai trò là nguồn năng lượng. Bằng cách ăn alanine, bạn sẽ có thể liên tục cung cấp nguồn năng lượng cần thiết trong quá trình tập luyện, giúp bạn có thể tập luyện trong thời gian dài.
Kích thích bài tiết glucagon. Glucagon là một loại hormone được tiết ra khi lượng đường trong máu giảm xuống. Glucose được sản xuất từ glycogen do tuyến tụy tiết ra và được lưu trữ trong gan, sau đó được giải phóng vào máu để duy trì lượng đường trong máu. [4] [5]
- Tác dụng chăm sóc da
Alanine hiện diện trong lớp sừng của da và cũng được đưa vào mỹ phẩm như một thành phần dưỡng ẩm tự nhiên (NMF) [*9] giúp duy trì độ ẩm cho da.
Nhìn từ bề mặt, da được chia thành lớp sừng dày khoảng 0,01 mm, lớp biểu bì dày khoảng 0,1 mm và lớp hạ bì dày 2 đến 3 mm. Da khô là tình trạng lớp sừng không giữ được độ ẩm. Lớp sừng mỏng chỉ 0,01 mm giúp bảo vệ cơ thể khỏi các chất lạ như virus, vi khuẩn và giảm tổn thương da. Hơn nữa, nó còn giữ được độ ẩm để làn da của bạn không bị mất độ ẩm.
Các tế bào của lớp sừng bao gồm các sợi keratin [*10] và chất xen kẽ, đồng thời chất xen kẽ chứa các thành phần dưỡng ẩm tự nhiên (NMF) giúp giữ độ ẩm cho da. Axit amin, bao gồm alanine, chiếm khoảng 40% thành phần dưỡng ẩm tự nhiên (NMF) và giữ cho làn da được dưỡng ẩm và khỏe mạnh.
[*6: Rối loạn gan là tình trạng làm suy giảm chức năng gan. Nó cũng có thể gây ra bệnh gan nhiễm mỡ. ]
[*7: Gan nhiễm mỡ là tình trạng có thể gọi là béo phì gan, trong đó chất béo trung tính và cholesterol tích tụ trong gan do ăn quá nhiều hoặc uống quá nhiều. Gan nhiễm mỡ, nơi chất béo trung tính và cholesterol tích tụ trong gan, có thể dẫn đến nhiều bệnh liên quan đến lối sống, bao gồm cả xơ cứng động mạch. ]
[*8: Xơ gan là tình trạng gan trở nên cứng và các chức năng ban đầu của nó bị suy yếu nghiêm trọng. ]
[*9: Yếu tố giữ ẩm tự nhiên (HMF) là một thành phần dưỡng ẩm ban đầu mà con người có, nó được tìm thấy ở lớp ngoài cùng của da, lớp sừng, có khả năng hút nước và giữ ẩm. Nó là một chất cái đó có NMF là viết tắt của Yếu tố giữ ẩm tự nhiên. ]
[*10: Sợi Keratin là những chất có trong lớp sừng của da giúp duy trì độ săn chắc và đàn hồi. ]
Alanine từ thực phẩm hoặc thực phẩm bổ sung
Thực phẩm chứa Alanine
○Clambacillus
○Nghêu
○Cua
○Rong biển
○Gan bò hoặc gan lợn
○Gà
Đối tượng khuyến khích sử dụng:
○Người uống nhiều rượu
○Người muốn giữ cho gan khỏe mạnh
○Người muốn xây dựng cơ thể cường tráng
○Người muốn có làn da đẹp
Thông tin nghiên cứu về Alanine
[1] Alanine và glutamine được dùng cho những con chuột bị cho uống rượu trong thời gian dài để gây tổn thương gan. Kết quả cho thấy quá trình chuyển hóa polyamine, một chỉ số về khả năng tái tạo của gan trong quá trình tổn thương gan, đã được cải thiện.
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/9063811
[2] Theo kết quả điều tra tác động của alanine và glutamine đối với sự tiến triển của gan nhiễm mỡ ở chuột do sử dụng đồng thời rượu và hydrazine sulfate, người ta thấy rằng gan nhiễm mỡ có thể được cải thiện bằng cách chỉ cần thêm alanine và glutamine vào chế độ ăn. . . Điều này cho thấy rằng việc bổ sung alanine và glutamine là cực kỳ quan trọng để bình thường hóa chức năng gan sau khi uống rượu.
[3] Chúng tôi đã nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch tổng thể giàu glutamine (Gln) đối với bệnh viêm phúc mạc thứ phát. Ba mươi ba bệnh nhân bị viêm phúc mạc thứ phát được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm và được điều trị TPN tiêu chuẩn sau phẫu thuật (16 bệnh nhân) hoặc TPN bổ sung L-alanyl-L-glutamine (17 bệnh nhân).Chúng tôi thấy rằng cân bằng nitơ, albumin và IgA cao hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng TPN bổ sung L-glutamine so với nhóm đối chứng và tỷ lệ mắc bệnh đã giảm.
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/14757388?dopt=Abstract
[4] 22 vận động viên cử tạ và 15 cầu thủ bóng đá được cho dùng giả dược hoặc 4g beta-alanine và và so sánh hiệu suất của họ trước và sau khi chơi thể thao. Nhóm điều trị β-alanine đã giảm bài kiểm tra thời gian con thoi 300y xuống khoảng 1,1 giây và tăng bài kiểm tra treo cánh tay uốn cong 90° (FAH). Nhóm beta-alanine cũng nâng được hơn 2,1 pound (khoảng 0,95 kg) trong quá trình cử tạ. Dựa trên điều này, người ta cho rằng lượng β-alanine hấp thụ có thể cải thiện thành tích tập luyện.
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/21659893
[5] 14 đối tượng dùng 4,8 g/ngày beta-alanine hoặc giả dược và cho họ tập thể dục trên xe đạp trong 6 phút. Ở nhóm dùng β-alanine, tình trạng giảm độ pH trong máu đã được ngăn chặn.
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/19841932
[6] Khi L-alanine được dùng cho một cậu bé 12 tuổi mắc bệnh lưu trữ glycogen loại 2 (bệnh Pompeii) trong 5 năm, bệnh cơ của cậu bé đã giảm bớt và bệnh cơ mạch máu của cậu đã được chữa khỏi hoàn toàn. Dựa trên điều này, người ta cho rằng ăn L-alanine sẽ hữu ích trong việc điều trị bệnh Pompeii.
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/12213618
Tài liệu tham khảo
・Tác giả: Toshio Shimizu, Sổ tay nguyên liệu thực phẩm chức năng, NXB: Yakuji Nipposha
・Tác giả: Akio Tanimura, Bản sửa đổi Hiểu rõ về phụ gia thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày, NXB: Koseikan
・Tác giả: PECK RITTER, Ritter Hóa sinh, NXB: Tokyo Kagaku Doujin
・Tanaka T, Imano M, Yamashita T, Monna T, Nishiguchi S, Kuroki T, Otani S, Maezono K, Mawatari K. (1994) “Effect of combined alanine and glutamine administration on the inhibition of liver regeneration caused by long-term administration of alcohol.” Alcohol Alcohol 29S 125-32 (1994)
・Hiroshi Suzuki, Toshiyuki Uchikoshi, Katsumi Maezono, Kazunori Mawatari, Kazuhiko Okabe (1992) “Effect of both alanine and glutamine administration to newly developed animal model of chronic alcoholic liver injury.” Chuyển hóa alcohol và gan 12 207-213 (1992)
・Fuentes-Orozco C, Anaya-Prado R, González-Ojeda A, Arenas-Márquez H, Cabrera-Pivalal C, Cervantes-Guevara G, Barrera-Zepeda LM. (2004) “L-alanyl-L-glutamine-supplemented parenteral nutrition improves infectious morbidity in secondary peritonitis.” Clin Nutr. 2004 Feb;23(1):13-21.
・Kern BD, Robinson TL. (2011) “Effects of β-alanine supplementation on performance and body composition in collegiate wrestlers and football players.” J Strength Cond Res. 2011 Jul;25(7):1804-15.
・Baguet A, Koppo K, Pottier A, Derave W. (2010) “Beta-alanine supplementation reduces acidosis but not oxygen uptake response during high-intensity cycling exercise.” Eur J Appl Physiol. 2010 Feb;108(3):495 -503. Epub 2009 Ngày 16 tháng 10.
・Bodamer OA, Haas D, Hermans MM, Reuser AJ, Hoffmann GF. (2002) “L-alanine supplementation in late infantile glycogen storage disease type II.” Pediatr Neurol. 2002 Aug;27(2):145-6.
・Tác giả: Masafumi Sakuraba, Hóa học axit amin: Kiểm chứng tác dụng của nó, NXB:Kodansha
・Tác giả: Shinji Funayama, Hóa học về protein axit amin và hoạt động sống, NXB: Đại học Tokyo Denki
・Tác giả: Nakamura Choji, Bách khoa toàn thư về chế độ ăn uống và dinh dưỡng, NXB: Maruzen Co., Ltd.
・Nikkei Health, Bách khoa toàn thư về TPBS ấn bản 2008, NXB: Nikkei BP Inc.
・Tác giả: Seiji Kambara, Bách khoa toàn thư về TPBS, NXB: Heibonsha
